Trà và cuộc sống

Trà là niềm hãnh diện, tình yêu và sự nghiệp của tôi.

Trà và sức khỏe

Trà mang lại sự khỏe mạnh, linh mẫn cho cơ thể mỗi người.

Trà và tinh thần

Trà giúp cho tâm trí chúng ta cởi mở và thanh khiết.

Uống trà đi!

(Nguyễn Dương Anh) Uống trà đi! 
Trong một ngõ nhỏ, tại một quán nhỏ, ở một góc nhỏ. Nó ngồi đó cũng nhỏ bởi cái dáng vẻ của một học sinh cấp 3 đang dán mắt vào quyển sách "Nếu còn có ngày mai" 
- Này bé
- Bé
- Này bé! ...
Đến câu thứ 3 nó mới giật mình dời quyển sách chuyển mắt tới cái nơi phát ra tiếng gọi "Bé" kia.
- Ơ! Ơ! ... Một chuỗi của sự ngạc nhiên. Bất chợt nó cười, ủa anh cũng có lớn hơn em đâu mà gọi em thế.
- Ừ nhưng sao ngồi đây cả tiếng rồi thế, chủ quán ra đuổi về bây giờ. Biểu tượng cảm xúc smile
... Oh vậy là đã ngồi đó, chốn ấy được 2h45 phút rồi ư? Sao hôm nay thời gian trôi kỳ vậy, sao nhanh thế!/!!! Phải về thôi! :(((((

(ảnh: Mạnh Cường)
...
Bé! Uống trà đi! anh vừa gọi cho bé đó! Sao ngạc nhiên thế.??
Một ký ức từ đâu trở lại, nhẹ nhàng như thời gian đếm ngược về cái ngày ấy, ngày của những năm tháng học hành đèn sách, tự kỷ một mình ở cái góc ấy.
Tính năm thì cũng đủ 10 năm rồi đấy, lần đầu tiên ở cái xứ đất lạ, đô thị phồn hoa nó được đi uống cái thứ gọi là "TRÀ" (nhà nó thiếu gì) sao anh lại đưa nó tới đây! Sao Hà Nội lại có những cái chốn yên tĩnh như quê thế ... Có đủ các thứ sao và sao anh lại nhìn nó (đứa em quê một cục - như anh nói) thì có gì mà nhìn lạ vậy.
Nó được kéo về thực tại khi anh cất lời!
- Sao ngồi đây một mình, em có chuyện gì à? anh ngồi đây lâu rồi mà không thấy em về. Giờ thì không cần anh đưa đi uống trà nữa rồi nhỉ! (anh nheo mắt cười)
+ Không ạ! Cũng chẳng biết sao hôm nay tự nhiên rẽ vào quán một cách vô thức, ngồi nên quên mất cả time. hihi nó cười gượng gạo nhìn anh.
+ Lâu rồi mất liên lạc của anh và Bác! Thời gian qua thế nào ạ?
- Bất chợt nó thấy anh trùng khóe mắt. Ừ không sao, cũng có nhiều thay đổi. Anh nghe nói em cứ một mực làm trà hả. Tốt đấy, nhưng sẽ khó khăn nhiều đó vì em là con gái. Cố gắng lên và bền chí là được, anh tin cô làm được như lần đầu tiên anh em mình gặp nhau ấy, kiên định và vững tâm lý lắm. Bác vẫn khỏe, đừng lo cho bác, quan trọng là đừng bỏ quên bản thân, nhớ chưa!
Anh vẫn vậy (mặc dù chỉ là họ hàng xa xôi) nhưng nó vẫn là đứa duy nhất được nhận tình yêu thương của anh! kẻ lạnh lùng và cũng có biệt danh " MÁU LẠNH" như nó ở Quê.
- Cô đang nghĩ cái gì thế? Ký ức hả! thôi về đi, muộn rồi. ...
+ Vâng! Bất giác nó thấy cay cay sống mũi. Em về đây, anh đi chưa?

(ảnh: Dương Anh)

Cũng là một ngày của mùa thu năm ấy! Nó ….....uống trà đi
Và 10 năm sau lại một ngày chớm thu! Nó – Bé...uống trà đi
Có lẽ cái làm dịu tâm cam nó là Nó!

(ảnh: Internet)


Bạn và tôi, những lúc sớm chiều!

Ký sự - đường về

(Nguyễn Dương Anh) Phần 1 - trở lại với Trà, tình yêu thủa thiếu thời.
 Cho phép tôi mượn lời của một người bạn để bắt đầu câu chuyện của tôi với Trà. 

"không chỉ dừng lại ở một buổi sinh hoạt Trà bình thường, không chỉ dừng lại ở câu chuyện cô bé yêu Trà muốn thay đổi để làm Trà tốt hơn và những trăn trở của người ướp Trà Sen, không chỉ dừng lại ở những ánh mắt xa xăm thoáng buồn về thực trạng Trà ...

Chúng tôi thấy mình phải làm gì đó và chúng tôi lên đường đi thực tế đồi Trà để tìm giải pháp hiện thực hóa ước mơ của những người có tâm thực sự với Trà Việt.

Đau xót với hình ảnh đồi trà xơ xác, những cây Trà bị bức tử đứng trơ trọi, xác mục và mủn như tro cốt con người. Nhưng vẫn còn hi vọng để phục hồi,... vẫn còn chưa quá muộn, ... chỉ cần tình yêu Trà đủ lớn để thổi lên những quyết tâm làm tới cùng để khôi phục sức sống của cây Trà Việt, ...."

(Ảnh: Sưu tầm internet)


Tôi sinh ra và lớn lên gắn với nó, miền đất mà con người được nuôi sống, trưởng thành từ trà. Lúc nhỏ, túi tít cùng mẹ, cha trên những nương chè còn chưa phủ kín đất, tung tăng chạy nhảy trên những khoảng trống lưng đồi, có bao nhiêu loại cây, loại cỏ: nào là Sim, là Mua, là Cỏ Danh, cây Guột, và không thể thiếu đó là những cây Chè đang được nảy mầm đâm chồi trên những lớp đất ấy. Thời gian cứ dần trôi, mang theo tuổi thơ của tôi gắn liền với nó.
(Ảnh: Linh Trà 152804 - Đồi Trà Dương Anh)
Thủa thiếu thời cũng qua đi theo sự sinh trưởng của cây Chè. Nó cũng lớn, cho thu hoạch. Tuổi thơ tôi gắn với nó, ăn với nó, ngủ với nó, hờn dỗi với nó, học hành cùng nó. Bởi, sáng đi học chiều về đi nhổ cỏ cho Chè, đi hái chè, hết vụ đi cắt dạ, thu rơm dải chè. Ngày này qua ngày khác, cuộc sống, công việc luôn luôn gắn với cây chè. Đã bao lần tôi hỏi Mẹ:
- Mẹ ơi! Người ta mua chè làm gì mà nhiều thế (mua cả của nhà hàng xóm nữa)
- Sao cứ hái xong lại phải phun thuốc sâu hả mẹ?
- Sao hái chè mãi mà nhà mình không giầu? 
- Sao không trồng cây khác hả mẹ?
...
Có biết bao nhiêu câu hỏi cứ xoay quanh cây Chè. Mẹ hiền từ cười thôi, chẳng giải thích gì cho tôi hiểu. Cứ thế mặc nhiên cuộc đời tôi gắn liền với nó. 
(Ảnh: Dương Anh - Đồi Chè150601)
Còn nữa

Quy trình kỹ thuật hái trà

(Nguyễn Dương Anh)
1. Tầm quan trọng của kỹ thuật thu hái.
Búp trà là sản phẩm cuối cùng của trồng trọt, đồng thời là nguyên liệu khởi đầu cho quá trình chế biến, do vậy số lượng búp, năng xuất búp là mối quan tâm của người thu hái, còn chất lượng nguyên liệu, phẩm cấp búp và tiêu chuẩn búp lại liên quan đến trà thành phẩm sau chế biến.
Hái đúng kỹ thuật làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo cho cây trà sinh trưởng khoẻ, bền vững.
Năng suất búp trà có quan hệ chặt với số lá trên cây. Với đặc điểm của cây trà mỗi một búp sinh ra từ một nách lá, do vậy nhiều lá mới có nhiều búp, năng xuất cao. Cho nên hái búp và chừa lá có tương quan chặt đến năng suất trà.
Thu hái búp hàng năm chiếm tới 60% lao động làm trà vì thế có biện pháp thu hái hợp lý không chỉ điều tiết tốt sinh trưởng cây trà, tăng năng suất, chất lượng búp mà còn tăng hiệu quả lao động thu hái.

2. Nguyên tắc hái
Để đáp ứng yêu cầu thu hái hợp lý cần tuân thủ nguyên tắc:
+ Hái, chừa hợp lý: Cân đối hái đi và chừa lại, đảm bảo tăng số lứa, tăng năng suất đồng thời đảm bảo hệ số lá chừa và sinh trưởng của cây
+ Hái đúng phẩm cấp: Căn cứ đặc điểm của từng giống, căn cứ tình trạng sinh trưởng của cây ở mỗi nương đồi, căn cứ vào yêu cầu chất lượng trà thành phẩm để xác định phẩm cấp hái cho mỗi loại hình năng suất, không hái già quá hoặc non quá
3. Kỹ thuật hái trà.
Trong kỹ thuật hái chú trọng 2 khâu chủ yếu là kỹ thuật chừa và kỹ thuật thu búp.
3.1. Kỹ thuật chừa: Có các hình thức chừa như sau:
+ Chừa theo thời vụ: Vụ xuân (tháng 3-4) chừa 1 lá cá + 2 lá thật, tạo tán bằng. Những đọt vượt cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.
Vụ hè thu (tháng 5-10) chừa 1 lá cá + 1 lá thật, tạo tán bằng . Những đọt vượt cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.
Vụ đông (tháng 11-12): Tháng 11 hái chừa lá cá, tháng 12 hái cả lá cá.
+ Chừa theo tình trạng sinh trưởng nương trà.
Nương trà sinh trưởng tốt chừa ít, sinh trưởng xấu chừa nhiều – Nương trà đốn thấp chừa nhiều hơn trà đốn cao. Những vùng có độ ẩm cao, nương trà sinh trưởng tốt có khả năng chủ động tưới nước có thể áp dụng chừa ngay từ đầu vụ với độ cao cách vết đốn từ 10 – 15 cm tuỳ theo khung đốn sau đó hái liên tục không chừa.
3.2. Kỹ thuật thu búp:
Căn cứ vào yêu cầu chế biến mà có các hình thức thu búp như sau:
+ Hái nguyên tôm: Trong điều kiện Việt Nam chưa áp dụng nhưng một số nước chế biến trà đặc sản đã áp dụng.
+ Hái 1 tôm + 1 lá.
+ Hái 1 tôm + 1-2 lá.
+ Hái 1 tôm + 2 lá.
+ Hái 1 tôm + 2-3 lá.
+ Hái 1 tôm + 3 lá.
+ Hái trà già (thường tận thu lá trắng, trà cuối vụ ít dùng)
Các hình thức hái khác nhau đã cho búp nguyên liệu có độ dài ngắn khác nhau và làm cho độ non già của búp cũng khác nhau, tuy nhiên, mức độ non già của búp còn được quyết định bởi tỷ lệ bánh tẻ. vì vậy trong phân loại phẩm cấp trà búp tươi có qui định mức độ non già và tiêu chuẩn phẩm cấp búp như sau:
Tiêu chuẩn búp trà:
Loại 1 (trà A): Có từ 0 – 10% là già, bánh tẻ.
Loại 2 (trà B): Có từ 10 – 20% lá già, bánh tẻ.
Loại 3 (trà C): có từ 20 – 30% lá già, bánh tẻ.
Loại 4 (trà D): có từ 30 – 40% lá già, bánh tẻ.
Xác định % bánh tẻ bằng phương pháp bấm bẻ và cân trọng lượng.
Trên cơ sở chừa hợp lý và đảm bảo phẩm cấp búp kỹ thuật hái được áp dụng cụ thể cho các loại tuổi trà khác nhau như sau:
3.4. Hái trà SXKD:
Hái san trật 7-10 ngày/lứa khi trên mặt tán có 30% búp đủ tiêu chuẩn.
Ở những vùng trà sinh trưởng tốt, chủ động nước tưới có thể áp dụng hái chừa theo tình trạng sinh trưởng nương trà (tại 1 số công ty trà như Văn Hưng, Đoan Hùng đã áp dụng hái chừa theo đốn như sau).
Đốn 60-65cm: Hái chừa đầu vụ cách vết đốn 15 cm.
Đốn 65-75 cm: Hái chừa đầu vụ cách vết đốn 10cm.
Đốn >75cm: Hái chừa cách vết đốn 7-10cm.
Cách hái này đảm bảo hệ số lá ngay từ đầu vụ, thao tác hái dễ hơn hái chừa theo vụ mà sinh trưởng trà tốt về nguyên liệu trà non tuy nhiên chúng tôi xin nhấn mạnh là biện pháp này chỉ áp dụng tốt cho những nương trà chủ động tưới nước hoặc những vùng có độ ẩm cao, sinh trưởng trà tốt.
3.5. Hái trà phục hồi: Trà đốn đau, đốn trẻ lại hái như trà KTCB tuổi 1,2
Theo: NOMAFSI


Thưởng trà tại chùa Vạn niên (Tháng 4.2015)

(Nguyễn Dương Anh) Một chiều đầu hè oi bức, mặt đường phả nhiệt vào mặt làm mặt ai cũng như da gà chọi, đỏ tưng bừng. Quãng đường từ nhà đến chùa Vạn Niên không quá xa nhưng vì là lần đầu đến nơi này nên đi tìm chùa mất thêm một đoạn thời gian. Cuối cùng khi đứng trước cửa chùa, bỗng có cảm giác: duyên đến.

Bước qua cánh cổng chùa là một không khí khác, cảm giác oi bức của mùa hè như được cởi xuống thay vào đó là không khí trong lành ngậm hương trầm thoang thoảng của đèn hương nghi ngút khí thịnh ngày mùng 1.

Buổi sinh hoạt trà hàng tháng của nhóm Trà và Cuộc sống lần này được tổ chức trong khuôn viên chùa Vạn Niên, nơi có cây xanh bóng mát, tượng Phật trang nghiêm, tiếng tụng kinh nhạc phật thanh tịnh và đặc biệt có gió mát từ hồ Tây thổi vào. Quả thật là một nơi lý tưởng để thưởng trà.

Buổi sinh hoạt có thật nhiều người, người làm trà, người bảo vệ và phát triển cây trà cổ thụ Việt Nam, có cả thầy cô giáo giảng viên, nhân viên ngân hàng... và có những cô cậu sinh viên... chung tất cả, họ là những người yêu trà, thích cảm giác nhàn tảng nhâm nhi chén trà bên bạn hữu.

 
Hương trà quyện với hương trầm nhàn nhạt lại có phong vị rất khác với ngồi trong phòng trà thưởng trà. Trong tiếng chân nhè nhẹ của khách phương xa hành hương đến nơi cửa Phật, giọng nói hào sảng hữu lực của anh Nguyễn Việt Bắc thu hút sự chú ý của chúng tôi. Anh là một người rất yêu trà, anh đã từ bỏ ngành học của mình để đi theo cây trà, phát triển và bảo vệ nó. Theo từng mẩu chuyện nhỏ anh chia sẻ về trà, về "cô bé Dương Anh" đang loay hoay cố gắng phát triển vùng chè của nhà mình, của quê mình để những người nông dân trồng chè có thể làm giàu bằng chính nghề truyền thống của họ làm chúng tôi xúc động. Một cô gái yêu cây chè, muốn nó không chỉ là đam mê mà còn là "nghiệp" mình theo đuổi, muốn nó giúp quê mình bớt khổ... muốn cây chè của Việt Nam vươn tầm ra thế giới... Một ước mơ như vậy thử hỏi chúng tôi làm sao có thể không xúc động?

Anh Bắc đâu chỉ chia sẻ có vậy, cầm chén trà trên tay anh nói với chúng tôi về "trà sạch", về "trà tam rượu tứ", về "trà Việt". Những câu chuyện này tuy gần gũi giản dị nhưng lại sâu sắc và khoa học. Anh làm chúng tôi cảm phục về hiểu biết sâu rộng của anh về trà, về cuộc sống...


Trà qua vài tuần. Từng câu chuyện chia sẻ của những người tham gia về cách thưởng trà của mình. Tôi chợt nhận ra, mỗi người trong mỗi hoàn cảnh khác nhau lại có một cách thưởng trà khác. Một nhúm trà nhỏ, một ít nước suối cũng là thưởng trà, một bộ trà cụ một nhúm trà thơm, một tống nước sôi cũng là thưởng trà. Mỗi cách có một phong vị riêng, tuỳ theo cảm nhận của người thưởng trà mà cảm giác thư thái, ung dung khác nhau.

Gió mát Tây Hồ như làm câu chuyện của chúng tôi sôi nổi hơn, hương trầm không át được hương trà thơm ngát thanh nhiên.

Một người anh nữa, người làm trà sen Tây Hồ mà chúng tôi vẫn gọi là "nghệ nhân", anh chậm rãi châm trà và kể cho chúng tôi nghe câu chuyện làm trà. Trà sen Tây Hồ có thể nói là loại trà đứng đầu trong các loại trà ướp hương, nó mang phẩm vị của đất Hà thành, của con người Việt Nam, nồng nàn mà nhẹ nhàng, nồng đậm mà sâu lắng.


Làm trà đâu phải dễ, khó lắm ai ơi. Từ chọn trà, chọn sen, canh thời gian ướp trà... bao nhiêu công đoạn trong đó, bao nhiêu tâm huyết, tỉ mỉ trong đó hẳn người đang ngồi thưởng thức chén trà thơm này không thể biết hết được. Nhưng nghe anh kể, tôi cũng hiểu được sự công phu, cầu kỳ trau chuốt trong đó và thầm hâm mộ anh. Hâm mộ cách anh gìn giữ văn hoá Việt theo cách của riêng mình, gìn giữ văn hóa trà Việt.

Tiếng bước chân nhẹ dần, đèn lồng được thắp lên trong mùi vàng hương cháy cũng là lúc chúng tôi phải chia tay nhau, tiếng cười nói, câu chào nhẹ buông. Cất chiếu, dọn trà cụ, chúng tôi chắp tay cúi chào sư thầy. Sư thầy cười hiền như Phật, gật đầu đáp lại.

Bước ra cổng chùa, ngoái nhìn những hình tượng Phật khắc trên tường, hình Bồ Tát an nhiên mỉm cười nhìn chúng sinh. Hương trà vẫn đượm trên môi, vị ngọt thanh nhẹ còn vương trên đầu lưỡi làm chúng tôi vừa xa lại nhớ vị trà.

Cảm ơn nhóm Trà và Cuộc sống, chị Dương Anh Anh đã mang đến cho chúng tôi một buổi thưởng trà với sự thanh tịnh cùng chia sẻ thú vị về trà. Hi vọng một ngày không xa sẽ lại có một buổi thưởng như vậy trên đất Phật an nhiên.


- Thủy Tiên,


Album ảnh











 

Các thành phần dinh dưỡng trong Trà

(Nguyễn Dương Anh) Các thành phần dinh dưỡng trong trà gồm có axit amin, vitamin, chất khoáng, hydratcarbon, protid và lipid.

a. Axit amin
Thành phần chủ yếu của tổ chức tế bào con người là protid; trong đó axit amin là đơn vị cấu thành của protid. Có tới 25 loại axit amin trong cơ thể con người, trong đó có 8 loại mà cơ thể con người không thể tổng hợp được, phải dựa vào nguồn thức ăn bổ sung bên ngoài.
Hàm lượng axit amin tự do trong trà là 2-5%. Axit amin có tác dụng sinh lý tốt với con người như trợ tim, lợi tiểu, nở giãn huyết quản…
b. Vitamin
Vitamin là một hợp chất hữu cơ rất cần thiết cho quá trình trao đổi vật chất trong cơ thể con người. Đó là một loại coenzym tham gia thành phần dinh dưỡng như protid, lipid, glucid. Tuy cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng con người không thể tự tạo ra được mà cần phải lấy bổ sung từ thực phẩm cung cấp bên ngoài.
Trong lá chè tươi có nhiều loại vitamin hòa tan trong lipid và vitamin hòa tan trong nước. Vitamin hòa tan trong lipid (như A1, A2, D1, D2, D3, D4, K1, K2) và vitamin hòa tan trong nước như (như B1, B2, B6, B12, PP, pantotenic, C, P). Đối với các loại vitamin hòa tan trong nước, khi hãm trà với nước sôi, có thể chiết xuất tới 80% vitamin.
* Vitamin C
Hàm lượng vitamin C (hay ascorbic axit) có nhiều trong trà; 100g trà khô có 100-500mg vitamin C, cao hơn chanh, dứa, táo và cam quít. Vitamin C rất dễ bị phân giải bởi các chất oxy hóa khử, đặc biệt ở nhiệt độ cao và khi có khim loại nặng như Cu [đồng], Fe [sắt]; trong công đoạn lên men và sấy khô của quá trình chế biến trà đen bị phá hủy nhiều; trà xanh bị phá hủy ít nên có nhiều vitamin C hơn trà đen.
Vitamin C có tác dụng cầm máu, thúc đẩy oxy hóa lipid, bài tiết cholesterol cho nên chống được bệnh cao huyết áp và xơ cứng động mạch. Vitamin C còn tham gia quá trình oxy hóa khử trong cơ thể người, xúc tiến tác dụng giải độc, có lợi cho việc bài tiết kim loại ra ngoài cơ thể. Vitamin C gây trở ngại cho quá trình hình thành u căng xe; nếu thường xuyên uống trà có thể làm chậm quá trình phát triển u căng xe cơ thể. Hàm lượng vitamin Ccaanf thiết cho người lớn là 60mg/ngày; cho nên chỉ cần uống 3-4 chén trà/ngày là đủ nhu cầu.
* Vitamin B trong lá chè có nhiều loại; tác dụng, hàm lượng và nhu cầu của mỗi loại đối với cơ thể con người đều khác nhau.
Vitamin B1 (Thianin) có tác dụng duy trì cơ năng thông thường trằng cách thúc đẩy trao đổi vật chất của hệ thống thần kinh, tim phổi và tiêu hóa; giảm chứng bị viêm thần kinh, phòng ngừa tối loạn nhịp tim phổi và dạ dày. Trong 100g trà có 150-160mg vitaminB1; nhu cầu cần thiết hàng ngày của con người là 1700mg vitamin B1, 1 chén trà có 4,5-18mg vitamin B1; 5 chén trà uongs mỗi ngày mới đảm bảo 1,3-1,5 nhu cầu vitamin B1.
Vitamin B2 còn gọi là vitamin G, là riboflavin hạch hoàng tố, thường thiếu trong thành phần dinh dưỡng hàng ngày; thiếu vitamin B2 ảnh hưởng đến oxy hóa vật chất trong cơ thể người; thiếu vitamin B2 thường biểu hiện ở mắt, chỗ tiếp giáp nhau của da và niêm mạc; do đó vitamin B2 có tác dụng phòng trị viêm giác mạc, viêm da, viêm giác mạc miệng. Trong 100g trà có 1300-1700mg vitamin B2, cao hơn đỗ tương 5 lần, cao hơn gạo và dưa hấu 20 lần. Con người cần 1800mg/ngày; uống 5 chén trà/ngày mới cung cấp 11-14% nhu cầu vitamin B2.
Vitamin B3 (vitamin PP), thiếu nó trong cơ thể làm cho hàm lượng coenzym trong cơ bắp giảm rõ rệt và bị bệnh.
Vitamin B11 còn gọi là folic axit, có tác dụng dự phòng máu thiếu Fe [Sắt]. 100g trà khô có 50-80mg B12; uống 5 chén trà/ngày mới đảm bảo 2,5-4,0% vitamin B12 nhu cầu cơ thể người/ngày.
Vitamin P1 duy trì tính thẩm thấu của tế bào và vi huyết quản, chống albumin thẩm thấu vào huyết quản, giảm xuất huyết mao quản, tăng tính đàn hồi của huyết quản và chống cao huyết áp.
Vitamin tan trong lipid: Gồm có A, D, E, K… Trong đó vitamin E thúc đẩy chức năng sinh sản tế bào, chống oxy hóa, có hiệu quả trẻ hóa con người. 100g trà có 57-70mg vitamin E; vitamin K có tác dụng cầm máu.
c. Chất Khoáng
Chất khoáng là những chất không thể thiếu của cơ thể con người; có loại tham gia cấu tạo các mô tế bào và cơ xương; có loại tham gia việc duy trì tính thẩm thấu bên trong, sự cân bằng axit-bazo và sự trao đổi chất trong cơ thể. Trong trà có tới hơn 40 khoáng chất, bao gồm những nguyên tố đa lượng như K, Ca, Na, P, Mg, Cl và nguyên tố trung và vi lượng như Si, Fl, Al, Cd, Fe, Mn, Co, Zn, Se, As, Mo…
Muốn xác định thành phần khoáng chất trong chè phải xác định các thành phần trong chất tro của chè. Chất tro là phần vật chất còn lại sau khi nung chè ở nhiệt độ cao 500-600°C. Chất tro chia thành 2 nhóm, hòa tan và không hòa tan trong nước. Nhóm không hòa tan trong nước lại chia thành 2 nhóm nhỏ, hòa tan và không hòa tan trong axit HCl pha loãng.
Đó là một chỉ tiêu chất lượng chè thường xuyên phải phân tích. Hàm lượng tro trong chè biến đổi theo độ non già búp chè, thời kỳ sinh trưởng, giống chè… Trong búp chè có 4-5% tro, trong trà khô có 5-6% tro trong trà sản phẩm. Tổng lượng chất tro cao là chè xấu và mức độ vệ sinh công nghiệp kém.
– Kali hàm lượng cao nhất là 1,5-2,5%. Kali là chất cation chủ yếu trong tế bào chè; có tác dụng trọng yếu trong trao đổi vật chất, áp suất thẩm thấu và cân bằng huyết dịch.
– Selenium (GSH-PX) là một thành phần không thể thiếu trong thành phần tổ chức mô tế bào. Có tác dụng kích thích sản sinh tính miễn dịch protid và kháng thể, tăng cường tính đề kháng với bệnh tât, có tác dụng nhất định với bệnh tim. Hàm lượng trà xanh Tử Dương Thiển Tây tương đối cao đạt tới 1,5-3,8ppm. Tuy nhiên, uống trà có hàm lượng Se quá cao có thể gây nên rụng lông.
– Zn thông qua sự hình thành của RNA và DNA trực tiếp ảnh hưởng đến sự hợp thành của axit cucleic và protid. Nếu thiếu Zn thì sinh trưởng phát duchj của nhi đồng và thanh thiếu niên bị chậm lại. Hàm lượng Zn của các khu vực sản xuất chè Trung Quốc không đồng nhất. 1g trà không có 35-50mg Zn; trà xanh là 41,4, trà đen là 39,3, trà Ô long là 37,3mg Zn.
– Fluor là môi giới chủ yếu của kết cấu xương; có tác dụng phòng trị tốt đối với bệnh răng và bệnh loãng xương. Hàm lượng Fl trong chè tương đối cao (trên 100ppm), thùy loại trà, theo thứ tự cao đến thấp sau đây: Hắc trà, Ô long trà, trà đen, trà xanh. Thiếu Fl dễ mắc bệnh khắc sơn (Parkinson) và ung thư đại tràng. Fl có nhiều trong trà gạch ép bánh, là một loại trà yêu thích của các dân tộc thiểu số vùng Tây Tạng, Tân Cương, Cam Túc, Nội Mông Cổ. Các vùng này phần lớn nằm tại cao nguyên, lấy chăn nuôi súc mục làm nghề chính; trong kết cấu khẩu phần lương thực với một hàm lượng lớn là thịt và sữa, có nhu cầu uống trà gạch hàng ngày để phân giải lipid, hỗ trợ tiêu hóa và bổ sung vitamin. Do đó trà gạch (bánh) đã trở thành một nhu yếu phẩm phải có trong sinh hoạt hàng ngày của dân tộc thiểu sống vùng biên cương. Nhưng quá nhiều Fl lại gây bệnh Fluorosis ảnh hưởng đến sức khỏe.
– Calcium: Hàm lượng Ca trong trà xanh là 1,4-3,3mg, trà đen là 2,9-6,6mg/g trà khô.
– Magie trong trà xanh là 1,2-2,4mg, trà đen là 1,2-2,3mg/g trà khô.
– Fe trong trà xanh là 80-260mg, trà đen là 100-290mg/g trà khô.
– Mangan trong trà xanh là 0,2-1,1mg, trà đen là 0,25-1,3mg/g trà khô.
Mỗi ngày uống 5-6 chén trà thì đảm bảo ±45%, 25% và 10% nhu cầu về mangan, kali, Se và Zn.
d. Các loại glucid (hydratcarbon)
Glucid là loại vật chất dinh dưỡng chủ yếu của con người, để duy trì ổn định giữ nhiệt độ cơ thể. Glucid là nhóm hợp chất hữu cơ quan trọng và phổ biến trong thực vật. Hàm lượng glucid chiếm tới 85-9-% trong nhiều thực vật, nhưng trong lá chè thấp, không vượt quá 20% trọng lượng chất khô, thuộc loại nước uống ít đường thích hợp người mắc bệnh đái tháo đường.
Glucid là nguồn chủ yếu cung cấp năng lượng trong tế bào thực vật và có tác dụng chống rét, chống bệnh. Glucid trong cây chè phân loại thành hai nhóm lớn:
– Glucid đơn giản hay monosacarid (như đường bồ đào, glucose).
– Glucid phức tạp hay polysaccarid, do nhiều phần tử monosaccarid kết hợp với nhau thành mạch dài có trọng lượng phân tử lớn; nhóm này không tan trong nước hoặc tạo thành dung dịch keo (như tinh bột, cellulose).
– Hàm lượng glucid hòa tan trong nước tăng theo tuổi lá chè; hàm lượng glucid không tan nhiều hơn trong trà xấu.
– Các loại glucid (đường) hòa tan rất ít, còn các loại không hòa tan thì nhiều hơn. Đường hòa tan trong chè tuy ít nhưng có giá trị lớn trong việc điều hòa vị chè và tham gia trong quá trình caramen hóa dưới tác dụng của nhiệt độ, để tạo thành hương thơm vị ngọt (mùi thơm cốm nổi lên trong khi sao chè, hay mùi hương đọng lại trong chén uống trà). Đường khử tác dụng với catechin hay với axit amin (phenylalanin) trong quá trình lên men hay nhiệt học, tạo nên màu nâu sáng hay vàng rơm và mùi hoa quả.
----------------------------------------------
Nguyễn Dương Anh: Sưu tầm
Trích: Khoa học Văn hóa trà Việt Nam và Thế Giới – Trang [211-214]
Tác giả: PGS. Đỗ Ngọc Quỹ – TS. Đõ Thị Ngọc Oanh


Tác dụng của Trà xanh

 (Nguyễn Dương Anh): 
Trà là một thức uống quen thuộc của nguời Việt chúng ta và là một dược thảo lâu đời. Gần đây khoa học phương Tây lại biết thêm nhiều dược tính của trà, mà mẹ tôi hay gọi là chè. Thông lệ mỗi sáng của cụ là đặt ấm nước để pha trà và hưởng hương vị thanh tao của chén trà buổi sáng, trước khi bắt tay vào công việc trong ngày.
(Ảnh: internet)
Trà là môt thức uống đã có từ gần 5 ngàn năm nay, bắt đầu từ đời vua Thần Nông [1]. Thọat đầu, người Trung Hoa dùng trà như một dược thảo trong việc ngăn ngừa và trị liệu một số bệnh nhưng đến đời nhà Đường thì trà trở thành một thức uống của giới thượng lưu và quan quyền. Dần dần trà được phổ biến trong dân gian, trở thành thức giải khát thông dụng cho tất cả, từ giầu cho đến nghèo.
Cũng như miếng trầu ngày xưa, trà mở đầu cho câu chuyện giữa khách và chủ nhà và là một món quà không thể thiếu được trong dịp sêu Tết, đám hỏi, đám cưới của người mình. Uống trà còn được xem là một nghệ thuật ở một số các nước như Nhật Bản.
Người ta tính ra có đến hơn 2 ngàn thứ trà, nhưng xếp lọai thì chỉ có 5 lọai trà. Đó là trà xanh , trà ô long, trà đen còn được gọi là hồng trà, trà vàng và trà trắng [2].
Nói về trà xanh, thi Trung Quốc sản xuất 70% tổng số lượng trà xanh trên thế giới. Không những thế, con cháu cụ Khổng còn uống trà này nhiều hơn hết thẩy mọi người.
Tục truyền ngày xưa tại tỉnh Phúc Kiến có một anh nông dân chuyên hái trà. Ngoài nghề hái trà anh còn là thợ săn. Vì dãi nắng, da anh đã đen sẵn lại càng ngăm đen hơn nên người làng còn gọi anh là Ô Long. Một hôm Ô Long đi hái trà về thì bắt gặp một con thú. Mải rượt bắt nó, Ô Long quăng giỏ trà nên lá trà bị dập và sau đó mệt quá nên quên cả phơi trà. Nhưng sáng hôm sau, lá trà bỏ quên tỏa ra một mùi hương rất dễ chịu. Và dân làng đặt tên cho trà này là trà Ô Long.
Trong trà xanh có những hóa chất gì giúp cho con người? Bác sĩ Tiong Hung Ling, tac giả của quyển sách với tựa đề là Trà xanh và những lợi ích tuyệt diệu của nó (Green Tea and Its amazing Health Benefits), xuất bản năm 2000 tại Houston Texas nói về lợi ích và công dụng của trà xanh.
Bắt đầu với một số làng chuyên trồng trà xanh, ngưới ta nhân thấy là số dân làng trồng trà bị ung thư rất thấp , kể cả nhiều lọai ung thư và trường hơp này còn áp dụng cho những bệnh tật khác nữa cũng rất thấp. Nói chung uống trà xanh rất có lợi cho sức khỏe chúng ta.
Trong trà có nhiều chất minerals, polyphenols, và các hóa chất khác nữa. Ngoài ra trà còn có rất nhiều sinh tố. Lượng sinh tố trong trà nhiều hơn lượng sinh tố tìm trong rau và trái cây.
Một trong những khám phá gần đây nhất là trà có tất cả là 4 lọai catechins. Nhiều nghiên cứu cho thấy catechin là yếu tố quan trong trong việc giảm ung thư.
Trong tất cả các lọai trà, trà xanh được được xem là có tác dụng tốt nhất cho sức khỏe của con người. Trà xanh có nhiều sinh tố hơn tất mọi thứ trà. Cứ 100 gram trà thì có độ 500g sinh tố C, va 1.2mg sinh tố B2, gấp 4 lần lượng sinh tố trong các lọai đậu nành, gấp 9 lần lượng sinh tố tìm trong cơm gạo. Ngoài ra còn có sinh tố B1, A, nhưng trái lại chất caffeine lại ít hơn những thứ trà khác.
Một chất khác là Selenium, có tác dụng ngăn ngừa ung thư nhưng việc này chưa được xác nhận.
Trà có những chất như polyphenols, catechin, polysaccharides. Chất polyphenols có tác dụng chống viêm cứng thành mạch máu, hạ huyết áp, hạ chất mỡ và cholesterol. Ngoài ra chất polyphenols này còn tăng cường hệ thống miễn nhiễm. Chất Catechin của trà chống nhiễm trùng và còn được dùng để trị chứng tiêu chảy, chống lọai ký sinh trùng protozoa và trị vi khuẩn bệnh cúm.
Chất catechin và polysaccharides có tác dụng hạ đường trong máu, chống hư răng, gia tăng sự đề kháng acid của chất men răng va ngăn ngừa chứng thối miệng.
Thêm vào đó trà còn có chất caffeine giúp tỉnh thức, lơi tiểu, có sinh tố C, B làm gỉam bớt sự căng thẳng, ngăn ngừa cúm, có sinh tố E có tác dụng antioxidant, chống già. Và một điểm không kém quan trọng là có chất Theanine làm trà có vị ngon.
Theo Bác sĩ Ling, thì cần uống từ 4 đến 5 chén mỗi ngày, còn tác giả của quyển Drinking Vegetable: Green Tea thì khuyên nên uống 7 đến 10 chén, còn theo như bệnh viện chuyên trị ung thư MD Anderson tại Houston, TX và Memorial Sloan-Kettering của New York thì uống càng nhiều càng tốt.
Nhưng trên thế giới, ai là người uống chè nhiều nhất? Thưa là người Tây Tạng. Mỗi năm trung bình một người Tây Tạng uống khoảng 15 kí trà trong khi người Anh tiêu thụ khoảng 4 kí trà mỗi đầu người mỗi năm.
Ngày xưa, khi người ta dùng trà để chữa bệnh thì họ đun trà, nhưng khi trà trở thành thức uống thông dụng thì người ta lại nghiên cứu cách pha trà để làm sao lấy được tất cả hương vị của nó.
Nếu dùng nước sôi quá độ thì trà sẽ đục nước, làm nước trà đổi thành màu vàng. Vì trà xanh được chế biến từ lá nõn của cây trà, nên người ta khuyên là nước đừng để sôi quá, trong khi đó nếu pha trà ôlong thì nước phải thật sôi và để trà ngấm lâu hơn.
Một yếu tố pha chén trà ngon là phải dùng nước mưa, hoặc nước suối, hoặc nước giếng. Nhưng ngày nay vì ô nhiễm, chưa chắc đã là trong sạch hơn nước suối đóng chai.
Chất catechin cũng nhập theo chất sắt sẽ bị cơ thể đào thải cho nên Bác sĩ Ling khuyên người ta nên uống trà hai tiếng sau bữa ăn để chất sắt có thì giờ ăn vào cơ thể và như vậy chất catechin sẽ không bị lọai ra ngay.
Được hỏi là nếu uống trà cũ thì có ảnh hưởng tai hại gì không, Bác sĩ Ling trả lời là không vì chất nitrate không đủ để làm hại người ta. Nhưng cũng không có gì tệ và chán bằng chén trà thiu.
Nguồn: Radio Free Asia
Chú thích:
[*] Trà xanh không có nghĩa là trà tươi, trà xanh là cách gọi thuần Việt của dòng Lục trà.
[1] Là một huyền thoại về nguồn gốc của trà, cũng như huyên thoại trà được sinh ra từ việc Phật cắt bỏ mý mắt vứt xuống đấy rồi phần mý mắt của Phật đã mọc thành cây trà.
[2] Cách gọi khác cho các dòng trà theo Trung Hoa là: Lục trà – Hoàng trà – Bạch trà – Oloong trà – Hồng trà – Hắc trà. Nếu phân chia theo mức độ lên men của trà thì chúng ta có 4 dòng là Lục trà – Oloong trà – Hông trà – Hắc trà.
Top of Form




Trà ngon mỗi ngày

(Nguyễn Dương Anh) Cho một ngày làm việc hiệu quả. Hãy lựa chọn cho mình những sản phẩm thông minh sử dụng cho buổi sáng .


Trân trọng giới thiệu sản phẩm uy tin, chất lượng. Các bạn tìm thấy tại Trà Ngon

Xin đừng rót nữa…

(Nguyễn Dương Anh) Một vị giáo sư suốt cả đời chuyên nghiên cứu Trà đạo của Nhật Bản. Ông là một chuyên gia phương Tây, nên khi nghe nói có một người đàn ông ở Nhật Bản là bậc thầy về Trà đạo, ông bèn đi một chuyến sang Nhật để gặp gỡ vị sư phụ này. Ông tìm thấy vị này sống trong một căn nhà nhỏ ở vùng ngoại ô của Tokyo. Sau khi chào hỏi, họ cùng ngồi xuống uống trà với nhau. Vị giáo sư bắt đầu nói về Trà đạo, vì đó là nghiên cứu chuyên sâu của ông. Ông nói những gì ông biết, và ông tha thiết muốn chia sẻ điều hiểu biết của mình với bậc thầy người Nhật.
 
Trong khi ông nói, vị sư phụ vẫn tiếp tục rót trà. Tách trà đã đầy tràn nhưng ông vẫn tiếp tục rót, khiến trà chảy ra đầy bàn. Giáo sư kêu lên: “Ô! Xin đừng rót nữa. Tách trà này đã đầy rồi!” Vị sư phụ trả lời: “Tôi chỉ đang minh họa cho câu tục ngữ ‘Chở củi về rừng’ thôi”.
Thủy Ngọc dịch (Theo lifepositive.com)

Sự tinh tế trong thưởng trà của người Hà thành xưa

(Nguyễn Dương Anh) Mỗi cân trà, nghệ nhân Hà thành ướp cùng 1.000-1.200 bông sen vì thế người nước ngoài đã không ít lần xuýt xoa trước nghệ thuật ướp trà cầu kỳ, tinh tế của người Hà Nội.

Trong nghệ thuật ướp trà này, trà mạn hảo được ưa chuộng hơn cả. Nguyên liệu là trà Tuyết Shan cổ thụ vùng mạn ngược Hà Giang, mọc tự nhiên trên những dãy núi cao 800-1.300 m, quanh năm sương phủ. Các nghệ nhân trà Hà Nội trân trọng, nâng niu từng búp trà này như một báu vật. Họ chọn lựa những búp non, những lá trà bánh tẻ rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi phơi khô, họ cho trà vào chum (vại), trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ 3- 4 năm cho trà phong hoá bớt chất chát, có độ xốp như giấy bản mà vẫn lưu giữ được hương vị đặc trưng.
Khi ướp, người ta rải một lớp trà rồi một lớp gạo sen mỏng, rồi lại một lớp trà, một lớp gạo sen. Cứ thế cho đến khi hết trà. Sau cùng, phủ một lớp giấy bản. Thời gian ướp tuỳ thuộc vào độ ẩm của gạo sen nhiều hay ít, thường từ 18-24 giờ. Sau đó, đem sàng để loại bỏ những hạt gạo sen. Sàng loại xong, trà được đóng vào những chiếc túi làm bằng giấy chống ẩm để giữ lấy cả hương sen lẫn hương trà, rồi sấy cho đến khi cánh trà khô, hương sen quyện thì bỏ ra. Lại ướp một lần sen thứ hai, thứ ba, thậm chí thứ tư, thứ năm tuỳ thuộc vào sở thích của người thưởng trà đậm hay nhạt. Càng ướp nhiều lần thì hương sen càng quyện, trà càng thơm. Trung bình, mỗi cân trà  ướp cần từ 1.000-1.200 bông sen. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, mỗi 1 kg trà sen thời xưa được đổi bằng 2-3 chỉ vàng mà người sành trà vẫn nao nức lùng mua bằng được.
Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu. Những công phu đó, dần trở thành lễ nghi. Trong ấm trà ngon, người ta thấy phảng phất một mùi thơ và một vị triết lý. Các chân trà nhân từ xưa rất chú ý đến nghệ thuật thưởng trà với nhiều loại trà cụ (dụng cụ pha trà) cần thiết để làm sao cho người uống cũng có thể cảm nhận và thể nghiệm giống như các thiền sư. Dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm đất nung nhỏ, được gọi là “Ngọc diệp hồi cung”.
Để có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm nóng lên bằng nước sôi. Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm. Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thuỷ” rồi chắt ngay ra. Đây là thao tác tráng trà nhằm loại hết bụi bẩn và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh. Lần thứ hai đổ nước vào ấm gọi là “hạ sơn nhập thuỷ” nên đổ nước cao, tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bụi trà tràn ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp để giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính là nước ngon nhất được tạo ra trong vòng 1-2 phút, có hương vị đượm đà, thơm tho quyến rũ. Khi rót trà phải chuyên đều các chén sao cho nồng độ trà như nhau bằng cách kê khít miệng chén lại và đưa vòi ấm quay vòng. (Cách phổ biến trong truyền thống là rót ra chén tống (chén hạt mít) rồi chia đều ra các “chén quân”. Cách này ngày nay ít dùng vì phần làm nguội trà, phần hương trà phôi pha.
Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc”. Người dâng trà và người nhận đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống, đưa chén trà sang tay trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải “du sơn lâm thuỷ”. Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng nháp nháp từng ngụm nhỏ nhẹ. Tay áo các quan lại phong kiến thường rất rộng cũng một phần vì lẽ dùngche miệng khi uống trà là vậy. Che miệng khi ăn, uống, cười trong chèo, tuồng, trong đời sống người Việt xưa chính là một hành vi văn hoá. Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng, nuốt tý nước bọt lần một, lần hai, lần ba để cảm nhận.
Ngoài cách uống trà trong gia đình, người Hà Nội xưa còn có các hình thức Hội trà, uống trà thưởng hoa đầu năm, uống trà thưởng hoa quý và uống trà ngũ hương. Trong đó, hội trà là hình thức tụ họp cùng thưởng trà khi có trà ngon hay dịp đặc biệt của các cụ. Thưởng trà đầu xuân là thói quen của riêng các bậc tao nhân chốn kinh thành xưa. Thường thì trước Tết, đích thân các cụ đi chọn mua hoa đào, cúc, mai trắng, thuỷ tiên ở tận vườn, chuẩn bị loại trà ngon nhất. Sáng mùng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu tiên để tịnh tâm và ngắm hoa, thưởng trà, sau đó mới là cả đại gia đình cùng ngồi quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe lời dặn dò.
Uống trà thưởng hoa quý như hoa quỳnh, hoa trà cũng là cái thú của nhiều người Tràng An. Đó cũng là hình thức hội trà quanh chậu hoa quý vào tối hoa mãn khai của những người cao tuổi, đàm đạo thế sự, văn chương và dặn dò lớp con cháu.
Trà ngũ hương chỉ giới hạn cho 5 người. Khay uống trà ngũ hương phải thửa 5 chỗ trũng để 5 loại hoa đang độ đượm hương nhất: cúc, sói, nhài, sen, ngâu và úp các chén kín hoa, bưng khay để lên nồi nước sôi cho hương hoa bám vào lòng chén. Pha trà mạn ngon và rót đều vào từng chén, mỗi người tham gia sẽ phải đoán hương trà trong chén của mình và cùng nhận xét. Sau mỗi chén trà, người chủ trà lại hoán vị hương để ai cũng được thưởng thức hết cái tinh tuý của hội trà ngũ hương.
(ST)